Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Diễn viên ballet Nga kể về cú chấn thương nhớ đời

hanhfm @ nguontinviet.com

Dáng người mảnh khảnh, nụ cười tươi thường trực trên môi, nữ diễn viên nổi tiếng Elisaveta Sergeevna Nebesnaya (E. Nebesnaya) – người sẽ đảm nhận vai nữ chính trong vở Hồ Thiên Nga sắp được trình diễn tới đây tại Hà Nội đã có cuộc trò chuyện với VietNamNet thật cởi mở tối 28/7.

Học múa ballet từ năm 8 tuổi

Chị đã đến với bộ môn nghệ thuật múa ballet như thế nào? Để trở thành một diễn viên ballet chuyên nghiệp cần phải có những tố chất nào, thưa chị?

– Tôi ngờ rằng mình bắt đầu học ballet từ trong bụng mẹ (cười). Đùa vậy thôi! Chính xác là tôi đến với múa ballet khi mình 8 tuổi. Để trở thành một diễn viên ballet chuyên nghiệp nó đòi hỏi yếu tố đầu tiên là khả năng của cơ thể có thể đáp ứng được việc tập luyện. Nhưng có được điều đấy cũng chưa đủ.

múa ballet, nhà hát Nga, kiệt tác ballet Hồ Thiên Nga,
Nữ diễn viên nổi tiếng Elisaveta Sergeevna Nebesnaya (E. Nebesnaya).

Bạn phải là một người rất cần cù và có một tâm hồn, tài năng mà Chúa cho. Ngay từ khi còn nhỏ việc tập luyện ballet được coi là thứ lao động khổ sai nhất trong các lao động của người Nga. Sau mỗi buổi diễn, diễn viên chính vở ballet sẽ sút từ 2 đến 3kg. Và công việc của người nghệ sĩ múa chúng tôi giống như đẽo đá.

Chị vẫn nhớ khoảnh khắc lần đầu lên sân khấu biểu diễn chứ?

– Bước chân đầu tiên trong nghề nghiệp cũng giống bước đi đầu tiên trong cuộc đời, nó quan trọng lắm. Bước đầu tiên để tiến lên phía trước. Khoảnh khắc đầu tiên bước chân lên sân khấu là sự lo lắng tột đỉnh và trước đó tôi đã tập 8 tiếng một ngày liên tục.

Tôi hiểu rằng tất cả những gì tôi có được đó là sự giúp đỡ của mọi người xung quanh. Những nhà sư phạm, những người thầy của tôi. Và tôi phải có trách nhiệm trước nhà sư phạm, người thầy của tôi và không muốn họ thất vọng. Tôi tự hỏi: “Mày có phải là một chiến binh chiến đấu hay không?”.

Nhà hát của chị đã trình diễn hàng nghìn buổi trên khắp thế giới và không phải lần nào vở “Hồ Thiên Nga” cũng được trình diễn trên nền nhạc sống. Vậy theo chị múa ballet trên nền nhạc sống khác gì với múa ballet với nhạc thu sẵn? Việc múa ballet trên nhạc nền thu sẵn có ảnh hưởng đến cảm xúc của diễn viên hay không?

– Việc nhảy múa trên nền nhạc thu sẵn nó đơn giản hơn nhiều so với việc công diễn ở khắp mọi nơi và mang vở diễn “Hồ Thiên Nga” đến các khán giả một cách gần hơn và dễ dàng hơn. Tất nhiên, việc biểu diễn trên nền nhạc giao hưởng chơi sống cho người nghệ sĩ nhiều cảm xúc hơn.

múa ballet, nhà hát Nga, kiệt tác ballet Hồ Thiên Nga,
Hai diễn viên múa chính của vở Hồ Thiên Nga.

Nhưng đôi khi việc diễn với nhạc thu sẵn lại có độ an toàn tuyệt đối hơn. Có một sự cố diễn ra ở đêm biểu diễn gần đây tại Bắc Kinh là nhạc và phông cảnh chuyển không đồng nhất, không khớp. Như vậy có thể hiểu nếu như điều kiện biểu diễn chưa ở mức tốt nhất thì việc biểu diễn với nhạc thu sẵn sẽ ít xảy ra sự cố hơn.

Có một chuyện vui là một lần ông nhạc trưởng vì muốn về xem bóng đá nên chỉ huy vội và nhạc chơi rất nhanh. Hậu quả là chúng tôi múa không kịp và xảy ra sự chệch khớp trong vở diễn. Tất nhiên, buổi diễn cũng đã tạo một ấn tượng cho khán giả nhưng không tốt bằng các buổi biểu diễn khác.

Ở Việt Nam, những nghệ sĩ múa thu nhập rất thấp họ gần như phải làm thêm những ngành nghề khác để nuôi sống bản thân và gia đình. Còn với chị nghề múa có mang lại sự giàu có về vật chất?

- Nghề nghiệp của chúng tôi đó là cuộc sống. Nó không đơn thuần là công việc kiếm cơm. Tất nhiên nói chúng tôi có hạnh phúc hay không thì chúng tôi hạnh phúc bởi ngoài việc đau chân, đau người do tập luyện khi đi ra ngoài sân khấu chúng tôi nhận được tràng pháo tay của khán giả điều đó làm cho người nghệ sĩ chúng tôi hạnh phúc nhất và bỏ qua những cái còn lại.

Nghỉ diễn 2 năm vì chấn thương

Nghệ thuật múa ballet ngoài tài năng còn là cả những tháng năm dày công khổ luyện. Trong suốt quãng thời gian theo đuổi bộ môn nghệ thuật này chị có kỷ niệm hay sự cố đáng nhớ nào về nghề?

-  Tôi từng một lần bị chấn thương rất nặng. Lúc đó đang biểu diễn thì tôi bị gãy chân (Elisaveta Sergeevna Nebesnaya chỉ tay xuống phía gót chân vết sẹo rất to và dài của mình – PV) và ngã trên sân khấu. Người ta phải khiêng tôi ra ngoài cấp cứu và khi đó tôi không thể nào tiếp tục vai diễn của mình. Tôi phải chữa trị chấn thương trong vòng 2 năm và nhiều người nghĩ rằng tôi sẽ không có cơ hội quay lại với nghề múa nữa.

múa ballet, nhà hát Nga, kiệt tác ballet Hồ Thiên Nga,
Nữ diễn viên nổi tiếng Elisaveta Sergeevna Nebesnaya (E. Nebesnaya) và bạn diễn.

Trong gia đình, chị chịu ảnh hưởng tính cách của bố hay mẹ?

– Bố tôi là một diễn viên và ông là trưởng đoàn của một vũ đoàn ballet ở một nhà hát. Tôi nghĩ rằng cả bố và mẹ đều cho tôi những điều tốt đẹp trong cuộc sống này. Tôi là sản phẩm tình yêu của bố mẹ và tôi yêu cả hai. Hàng ngày tôi thường gọi điện về cho bố mẹ để hỏi han và tâm sự.

Ngoài múa, chị quan tâm đến điều gì khác? Với lịch biểu diễn liên tục khắp thế giới, chị làm thế nào để cân bằng công việc và cuộc sống?

– Tôi quan tâm đến tất cả mọi thứ. Tôi thích thêu thùa, nướng bánh. Cũng xin tiết lộ là tôi hoàn toàn không phải ăn kiêng. Không phải diễn viên ballet nào cũng phải ăn kiêng vì việc tập luyện nhiều đã tiêu hao nhiều năng lượng. Còn việc bạn hỏi làm thế nào để cân bằng công việc và cuộc sống tôi chỉ nghĩ rằng tình yêu thực sự thì chinh phục được tất cả.

Có khi nào chị nghĩ mình sẽ thôi việc múa?

– Tôi từng tốt nghiệp ở ĐH sân khấu quốc gia của Nga và có bằng đỏ Sư phạm múa. Ngoài việc đưa vở diễn đi khắp nơi trên thế giới để phục vụ khán giả những giá trị nghệ thuật cổ điển tôi còn tham gia dàn dựng một hai vở diễn ở các nước khác. Ngay ở nhà hát tôi đang phải làm trưởng một nhóm múa.

Tôi luôn muốn truyền đạt cho các bạn trẻ những kinh nghiệm bao năm của mình và tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ ngừng múa. Có khi 60 hoặc 70 tuổi mà còn có thể múa được thì tôi vẫn sẽ múa. Bỏ múa ư? Tốt nhất đừng nghĩ đến chuyện đấy, cứ hãy làm việc đi đã!

Elisaveta Sergeevna Nebesnaya (E. Nebesnaya) sinh ra và lớn lên tại Matxcơva. Sau khi tốt nghiệp đại học cô làm việc tại Đoàn Ballet quốc gia Nga. Cô từng là diễn viên chính trong nhiều vở kịch như: Kẹp hạt dẻ, Lễ bái xuân, Don Quixote.

Elisaveta Sergeevna Nebesnaya (E. Nebesnaya) đoạt nhiều giải thưởng quốc tế tại các cuộc thi tại Vienna, Yalta, Kazan, giải thưởng “Lưu giữ ballet truyền thống cổ điển”. Năm 2006, cô nhận danh hiệu “Diễn viên cống hiến của Nga”.

Ngày 1/8,  Elisaveta Sergeevna Nebesnaya (E. Nebesnaya) cùng các nghệ sĩ của Nhà hát Talarium Et Lux sẽ trình diễn vở “Hồ Thiên Nga” tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Hà Nội.

- Cảm ơn chị về cuộc trò chuyện!

Sơn Hà
(Vietnamnet)


Đăng ký: Bản tin Văn hóa Nghệ thuật
Nguồn tin

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2015

Múa dân gian Thái

hanhfm @ nguontinviet.com

7

Thái là một trong những dân tộc vốn có nền dân vũ (múa) khá phong phú. Một trong những điệu múa phổ biến nhất của dân tộc này là những điệu Xòe duyên dáng, dịu dàng làm say mê ngây ngất lòng người. Từ trước tới nay, múa  Xòe hay Xòe luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong những dịp lễ Tết, cúng bản, cúng mường của người Thái Tây Bắc. Bài viết này đề cập đến vai trò của múa Xòe và một số điệu múa khác trong đời sống hằng ngày, trong đời sống tín ngưỡng và lễ hội của người Thái Tây Bắc.

1. Vai trò múa xòe trong đời sống hằng ngày

     Một trong những sinh hoạt văn nghệ phổ biến của người Thái là “Xòe vòng”. Xòe vòng là hình thức múa tập thể sơ khai nhất, là nét sinh hoạt vui chơi của người Thái xưa và nay. Múa Xòe phổ cập ở mọi lứa tuổi: trẻ già, trai gái ai cũng biết Xòe và ai cũng thích Xòe. Đây là một điệu múa, một hình thức nghệ thuật và cũng là một tục lệ. Xòe vòng được xuất hiện trong các nghi lễ mừng xuân, được mùa, lên nhà mới, cưới xin… và ngay cả trong các cuộc liên hoan trên nhà sàn, quanh đống lửa, khi rượu đã ngà ngà, tiếng chiêng trống nổi lên thúc dục, thế là không ai bảo ai mọi người cùng nắm tay nhau say sưa trong nhịp bước Xòe vòng. Xòe vòng gắn với một số phong tục tập quán của người Thái Trắng ở Phong Thổ và cả các vùng cư trú của người Thái Đen Tây Bắc.
Ngày Tết, dân Xòe rất đông, địa điểm tổ chức có khi trên bãi đất rộng, có khi vào ban đêm mà tâm điểm thường là đống lửa to. Dân bản nắm tay nhau thành vòng tròn múa quanh đống lửa theo nhịp chiêng trống. Động tác Xòe chỉ gồm một bước nhảy thường với đội hình vòng tròn đơn giản. Nếu đông người thì múa thành hai vòng tròn, vòng trong nhỏ và vòng ngoài lớn. Hai vòng xoay ngược chiều nhau. Tay nắm tay, vai kề vai, chân người nọ dịch bước theo chân người kia trong không khí tình cảm say sưa ấm áp của đêm Xòe. Khách chưa quen chỉ việc đứng ngoài vòng nhìn một hai lần là có thể tham gia Xòe ngay được.

Nhịp Xòe ở đây nhẹ nhàng, uyển chuyển nhưng đôi khi do không khí cuộc vui thôi thúc nên mọi người vỗ tay nhảy hú lên náo nhiệt. Đội hình Xòe đôi lúc dàn hàng ngang hoặc hình bán nguyệt chứ không nhất thiết là vòng tròn. Chẳng những nam nữ thanh niên Thái yêu thích Xòe mà các cụ già cũng hào hứng tham gia. Ban đầu các cụ còn múa nhẹ nhàng, khi rượu đã ngà ngà cùng với tiếng chiêng trống thúc giục, tuổi xuân như trỗi dậy, các cụ múa càng say sưa, sôi nổi. Người Thái nghĩ rằng có tham gia Xòe như vậy thì thánh thần mới phù hộ cho họ làm ăn phát đạt.
Trong sân Xòe, bên cạnh vòng tròn lớn còn có thể thấy những đôi nam nữ thanh niên tách ra để Xòe riêng đó là Xòe đôi và Xòe cụm với bước nhảy nhanh không cần nhạc đệm. Đây là những động tác được sáng tạo tại chỗ, theo ngẫu hứng trong tâm trạng quá cuồng do vậy không nằm trong quy cách bình thường của Xòe vòng. Đây là một biểu hiện của lòng mến khách khi người Thái đem những động tác Xòe ấy ra đón tiếp người khách quý đến chơi nhà đúng lúc có cuộc vui.
Mỗi cuộc Xòe thường kéo dài đến nửa đêm, có khi tới sáng mà mọi người vẫn say sưa không ai bỏ cuộc. Không khí Xòe càng về khuya càng sôi nổi, mạnh mẽ. Mặt nhìn mặt, tay nắm tay ai cũng cũng say mê với nguồn vui thu nhận được từ trong ánh mắt, nụ cười và từ đôi bàn tay ấm áp thân tình.
Nhạc cụ dùng để đệm trong múa Xòe vòng thường có: 1 chiếc trống, 2 hoặc 3 chiếc chiêng, 1 đôi chũm chọe và mấy ống tre. Nhiều nơi còn dùng Pí, khèn bè, tính tẩu và đặc biệt là hát đối đáp có láy dưới sau mỗi câu hát. Giai điệu và tiết tấu âm nhạc đơn giản, câu nhạc ngắn, lặp đi lặp lại nhưng có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Ai đã vào vòng Xòe thì có thể múa thâu đêm suốt sáng. Người ta đến với Xòe vòng trước hết là cho vui bản, vui mường, gặp gỡ thăm hỏi nhau, sau là tìm bạn để gửi gắm tâm tình.
Bước vào mùa xuân, ở vùng Thái trắng tất cả mọi người đều tham gia Xòe  (trừ những người đau yếu), vì họ quan niệm rằng nếu đầu năm mà không múa, không hát thì cả năm sẽ gặp rủi ro. Người Thái trắng còn có tục múa mừng nhà mới là một việc hệ trọng đối với một gia đình. Dựng nhà mới làm xong, chủ nhà làm cỗ cúng ma nhà và thết đãi khách đến mừng. Trong tiệc rượu, những người đến dự hát chúc chủ nhà có nơi ở tốt, con cái khỏe mạnh, làm ăn khấm khá. Có nơi còn múa Xòe sau tiệc rượu, trước nữa để mừng nhà mới sau là khen chủ nhà đã dựng được ngôi nhà chắc chắn đông người nhảy múa mà không sập.
Xòe vòng được sử dụng linh hoạt rộng rãi nhằm thỏa mãn đời sống văn hóa  tinh thần của đồng bào Thái. Qua các giai đoạn lịch sử, Xòe vòng luôn luôn được phát triển và cho tới ngày nay ở bất cứ trường hợp nào, giai đoạn nào, Xòe vòng vẫn không cũ, không mòn , sức hấp dẫn của nó vốn do cái đẹp tự nhiên mang đậm  tính dân tộc sâu sắc. Xòe vòng là một phương tiện giao tiếp tốt, một sản phẩm tinh thần quí giá trong đời sống xã hội. Xòe vòng không còn là của riêng người Thái mà nó trở thành tài sản chung của nhân dân Tây Bắc.

2. Vai trò của múa dân gian trong đời sống tâm linh

Múa là một trong những lễ thức quan trọng trong tín ngưỡng của dân tộc Thái. Xã hội cổ truyền của người Thái vốn hình thành và vận hành trên cơ sở nền tảng nông nghiệp trồng trọt, trong đó lúa gạo và trồng lúa nước chiếm vị trí chủ đạo. Xưa kia, để duy trì trật tự xã hội bản-mường, bọn chúa đất đã lợi dụng việc thờ cúng trời đất, bản mường. Vì không giải thích được các hiện tượng tự nhiên do trình độ hiểu biết thấp kém, người Thái xưa tin rằng có những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận của họ.
Theo quan niệm của người Thái Tây Bắc, thế giới được chia làm 3 tầng :
– Tầng trên vòm trời (mương phạ) là thế giới của các vị Then, trong đó Then Luông là đấng tối cao cai quản muôn loài và vũ trụ.
– Tầng mặt đất (mương đin) ở trần gian là thế giới của con người và hàng trăm ma quỉ phải kiêng, phải thờ.
– Tầng âm phủ (mương lụm) dưới mặt đất là thế giới của những người lùn, chỉ cao bằng chiếc bình vôi, cây đa chỉ to cao bằng cây cà.
Then là những lực lượng sáng tạo và hủy diệt. Tin vào điều đó, người Thái xưa đã làm lễ cúng Then để cầu xin phù hộ cho con người làm ăn sinh sống được thuận hòa. Họ cho rằng chúa đất là con cháu của Then được cử xuống trần gian để cai quản họ. Vì thế, hàng năm vào dịp đầu xuân, trước mùa cày cấy gọi là để mở đầu một năm sản xuất thuận lợi, lễ Xên mương (cúng mường ) được tổ chức để chúa đất thay mặt bản mường cúng bái trời đất, thần linh, ma quỷ, tổ tiên dòng họ chúa, phù hộ cho chúa và bản mường làm ăn khấm khá. Lễ được tổ chức linh đình vào tháng giêng (khoảng tháng 7 âm lịch) do Chẩu mường (Lãnh chúa đầu mường) làm chủ tế và ông mo mương chủ trì, toàn mường về tham dự ăn uống, nhảy múa hai 3 ngày liền. Và chỉ ở lễ Xên mường, lời cúng của mo mương mới được trích trong tác phẩm Tay pú xấc (Kể chuyện cha ông đánh giặc).
Sau những nghi thức mang nội dung tôn giáo là điệu múa Xòe vòng  (Vòng Xòe ở đây luôn luôn dịch chuyển ngược lại vòng quay của kim đồng hồ). Ngoài Xòe vòng, nhiều vùng còn sử dụng các điệu xòe khăn, xòe quạt, xòe tăng bu, múa hoa…Kết thúc lễ Xên mường là những trò chơi, nhảy múa tưng bừng náo nhiệt cùng với ăn uống. Nghệ thuật múa được sử dụng trong Xên mường mang tính tự nhiên, ngẫu hứng. Quy mô, thời gian và nội dung mỗi điệu múa không theo một khuôn định chặt chẽ mà tùy số người tham gia, không khí lễ hội quyết định.
Tiếp theo lễ Xên mương, mỗi bản lại tổ chức Xên bản (cúng bản) với nội dung ý nghĩa như Xên mương. Sau lễ Xên bản, từng gia đình bắt đầu từ nhà chúa
đất đến nhà chức dịch rồi nhà dân tổ chức lễ Xên hươn (Lễ cúng tổ tiên). Mỗi gia đình đều biết được lịch sử dòng họ mình, công đức của cha ông đối với xã hội. Chỉ có chủ nhà mới có quyền thay mặt gia đình cúng ông bà và làm chủ lễ Xên hươn. Trong dịp lễ này hoặc cưới xin, ma chay, làm nhà mới…con cháu nhớ tới tổ tiên và mời xuống vui chơi. Ngoài lễ vật dâng cúng, con cháu phải mặc y phục cổ truyền, múa hát những điệu múa cổ để mua vui cho tổ tiên. Hiện nay, lễ cúng tổ tiên hầu như không còn tồn tại, hoặc có chăng cũng đã được tổ chức đơn giản.

3. Vai trò múa dân gian trong lễ hội

Lễ hội là nơi hội tụ các hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc của dân tộc cũng là nơi khởi nguồn cho nghệ thuật múa được gìn giữ và phát triển. Nội dung và hành động lễ hội bao gồm những tập tục lâu đời, những hình thức sinh hoạt  văn hóa phong phú, phù hợp với nguyện vọng và ước muốn chung của dân bản là được mùa lúa ngô, đời sống hạnh phúc, những thế lực siêu nhiên không làm hại, con cháu đề huề thành đạt, nòi giống mãi mãi được  trường tồn và phát triển…

Trong lễ hội của người Thái nghệ thuật múa luôn luôn giữ một vị trí quan trọng trong hành động và tiến trình lễ hội. Ta có thể thấy múa trong lễ Xên mường, Xên cha và Kin pang Then.
Xên cha là ngày lễ lớn của người Thái Đen vùng Thuận Châu, Sông Mã, Mai Sơn tỉnh Sơn La. Có thể coi đây là lễ kỷ niệm những chiến thắng của người Thái Đen khi thiên di từ phương Bắc vào Việt Nam. Lễ Xên Cha là một trong những lễ to nhất của toàn mường và châu. Đây là nghi lễ nhằm mục đích khẳng định quyền chúa đất của mỗi dòng họ quý tộc Thái Đen đối với toàn thể nhân dân sống trong phạm vi cai quản của toàn mường và trong mỗi châu mường xưa kia. Khách mời có vua, quan, án nha, phìa tạo các mường về dự. Nội dung lễ Xên Cha chủ yếu là dâng Coong (Trống đại) cho Then, vì đây là vật linh thiêng biểu thị quyền uy của chúa đất. Mỗi khi có việc, chúa đất cho đánh trống để thông báo việc lành hay dữ để tập hợp toàn dân mường. Mỗi đời chúa chỉ được làm một chiếc Coong, nếu chúa sống lâu Coong hỏng thì mới được làm chiếc thứ hai. Cùng với lễ dâng Coong là múa Lảng (tức là múa Khiên hình đuôi công). Múa công với tư cách là một nghi thức trong lễ Xên Cha, không chỉ là dịp để cho những người cầm đầu một mường lớn biểu thị nỗi vui mừng của họ mà còn nhằm mục đích cầu xin thần linh phù hộ cho toàn mường. Đây là một trong hai nội dung chính và quan trọng nhất của lễ hội. Dựa theo nhịp điệu âm nhạc thôi thúc, rộn ràng của tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng thanh la lanh lảnh, điệu múa Khiên cùng với Xòe vòng được diễn đi diễn lại suốt trong thời gian lễ hội. Lễ dâng Coong trang nghiêm nhưng chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn và không gian chính là nhảy múa. Nhảy múa đã thu hút đông đảo, tâm trí của toàn dân Mường về dự lễ.
Hội Kin pang Then là lễ hội nhằm cúng dâng lễ vật cho những vị thần cai quản Mường trời của người Thái trắng Tây Bắc. Để tạ ơn Then và tiễn đưa Then về trời sau những ngày tết, từ ngày 16 tháng giêng đến tháng 2 âm lịch, khi hoa mạ nở là mở hội. Có thể nói đây là ngày hội của người làm Then/hành nghề tôn giáo. Hội cúng Then thường được làm to. Quan chức trong mường, trong châu tới dự. Mặc dù qui mô của của lễ hội có thể thay đổi tùy theo điều kiện tổ chức của từng bà Then ở từng nơi, hệ thống múa và lễ thức thường được thêm bớt như sau:
(chỉ có múa khăn):

1.Chầu pô (chầu vua)
2.Nả lăng
3.Táng xạ (diễn tả thân phận thua trận phải đến chầu)
4.Nhụm hơ (đẩy thuyền)
5.Tủm xoong tơ
6.Ca ớk (múa khăn lễ cầu then)
7.Khóa hô
8.Quát bók héo (quét hoa tàn)

Điệu Quát bók héo với ý nghĩa: mùa xuân hết, hoa đã tàn, những ngày vui chơi chấm dứt ta quét hoa tàn đi trở lại bắt tay vào một năm lao dộng mới. Nội dung và hành động lễ hội Kin pang Then chủ yếu là múa hát. Dựa vào nội dung một vài điệu múa ta có thể nói rằng Kin pang Then còn là một thứ hội cầu mùa và mừng hoa. Hát múa chiếm hầu hết thời gian và không gian lễ hội, do vậy mới gọi là hội múa Kin pang Then. So với loại Xòe vòng, xòe trong Kin pang Then có phần chuyên nghiệp hơn, múa then sau này đã được các nhà huấn luyện khai thác, chỉnh sửa, bổ sung thành giáo trình giảng dạy múa chuyên nghiệp.
Hầu hết các điệu múa được trình diễn ở hội mang tính chất lễ thức. Các bài hát, điệu múa được sắp xếp theo một trình tự nhất định. Các điệu múa chỉ gồm từ một đến ba động tác được múa đi múa lại hồn nhiên, thuần nhuyễn, mở đầu và kết thúc không theo một khuôn định. Điệu múa có thể kéo dài và kết thúc tùy thuộc vào không khí và sự dẫn dắt của một Then.
Chuyên phục vụ cho hội lễ tôn giáo, những điệu xòe kể trên không được biểu diễn rộng rãi vào những ngày thường. Người múa không phải là diễn viên chuyên nghiệp nhưng được tuyển chọn trước và được luyện tập dưới sự hướng dẫn của các ông mo, bà mo. So với Xòe vòng, loại xòe phục vụ hội lễ được nâng cao hơn, phong phú hơn về động tác, đậm tính cách hơn song vẫn chưa vượt lên khỏi mức độ xòe sinh hoạt nghĩa là động tác xòe còn gần với động tác múa trong sinh hoạt chưa được phát triển cao.
Ngoài những loại Xòe trên còn có loại Xòe đạo cụ như: Xòe khăn, xòe nón, xòe quạt, xòe quả nhạc. Theo lời các nghệ nhân ở Phong Thổ, vào khoảng năm 1941 ông Đèo Văn Én đã tập hợp một số thanh niên ham thích văn nghệ tổ chức thành đội xòe. Đầu tiên họ học 6 điệu xòe khăn trong hội lễ Kin Pang Then làm vốn . Sau đó họ đi biễu diễn khắp nơi và được nhân dân rất hưởng ứng. Mỗi chuyến đi xa là một đợt học thêm hình thức xòe ở địa phương khác. Cứ thế ra đời 4 loại xòe có đạo cụ :
–    Xòe khăn với các điệu Tung đánh khăn, Tra hạt, Khăn lượn vòng…
–    Xòe quạt với các điệu Quạt úp, Quạt mở, Quạt vẫy…
–    Xòe nón với các điệu Nón Phong Thổ như đưa nón hai bên người, Xoay nón trên đầu, ngửa nón trước sau.
–    Xòe quả nhạc với các điệu Đánh nhạc đôi, Đánh nhạc đan nhau…
Ngày nay, nói đến Xòe đạo cụ không thể quên 3 trung tâm, 3 đỉnh cao của nghệ thuật Xòe đã nổi bật trong quá trình hình thành và phát triển các đội xòe : Phong Thổ, Lai Châu và Quỳnh Nhai. Xòe đạo cụ đã bỏ khá xa xòe sinh hoạt để trở thành xòe biểu diễn. Nó được chuyên nghiệp hóa. Từ luật động, tạo hình cho đến đội hình , xòe đạo cụ được tổ chức, được qui cách hóa. Có âm nhạc, có bài đàn quy định cho mỗi loại xòe, mỗi điệu xòe. Xòe Thái có bao nhiêu điệu nhạc thì đàn tính cũng có ngần ấy bài kèm theo. Xòe chủ yếu do nữ biểu diễn. Nam tham gia với tư cách là người điều khiển, người sáng tác và thường là người chơi nhạc đệm. Cũng đôi khi nam trực tiếp xòe thường là vào lúc bốc men say hoặc để kết thúc buổi xòe.
Xòe Thái nhìn chung không bước rộng, không có động tác vung tay đánh hết đà. Phổ biến là bước đi lướt nhanh, nhỏ, là đường nhấn nhá, lượn vòng, là động tác vung tay, vung khăn, quả nhạc, quạt, nón trong phạm vi hẹp quanh người. Nhún nẩy là một nét nổi bật, quán xuyến trong toàn bộ nghệ thuật xòe.  Khi nẩy lên không nẩy hết đà vì nẩy hết đà thành nẩy giật, ngắt quãng, động tác trở thành thô cứng, điều mà xòe Thái rất kỵ. Thân người luôn hoạt động trong tư thế tự nhiên, ổn định. Có thể nói rằng toàn bộ xòe Thái là hoạt động liên tục và nhuần nhuyễn của những đường nét nhỏ, tế nhị, tinh tế.
Đây là một nền nghệ thuật múa có trình độ phát triển khá cao. Điều này thể hiện ở các động tác múa khăn, múa quạt, múa nón, múa quả nhạc. Mỗi thể loại và loại hình vừa mang tính trữ tình lại vừa phong phú các sắc thái địa phương. Do vậy đây là một nền nghệ thuật múa mang bản sắc dân tộc đậm đà. Trình độ nghệ thuật múa dân gian Thái không tách rời mà hơn nữa là kết quả của sự phát triển chung của nền văn học nghệ thuật Thái. Nếu không có các lễ lớn như Kin Pang Then thì thì sẽ không có một vốn múa dân gian lớn và kèm theo đó là vốn âm nhạc cho múa của cây tính tẩu.

4. Kết luận

Với môi trường văn hoá phong phú và đa dạng như vậy đã mở ra một tiềm năng dồi dào cho nghệ thuật múa hình thành và phát triển mạnh mẽ. Chính trong môi trường văn hoá đó đã tạo ra mảnh đất màu mỡ để nghệ thuật múa dân gian Thái từ chỗ không chuyên trở thành chuyên nghiệp và đã được đào tạo bài bản theo một hệ thống chuyên sâu khoa học. Vì vậy, trong khi tôn trọng di sản văn hoá phi vật thể của người Thái, cần phải duy trì, nâng cao và phát huy để góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hoá Việt Nam, nhằm phục vụ cho công cuộc đổi mới công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Vì thế, cần phải bảo lưu và gìn giữ nghệ thuật múa dân gian Thái để không bị mai một, bị mất đi hương sắc của nó và được lưu truyền trong nhân dân từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Múa dân gian Thái là một trong những biểu hiện của nền văn hóa dân tộc. Nó là sự chắt lọc tinh hoa của phong tục tập quán mang tính tích cực của dân tộc. Những tinh hoa ấy được phát triển theo quy luật của cái đẹp mang bản sắc dân tộc; phản ánh sức sống và trình độ phát triển của cả cộng đồng, góp phần tạo nên sức mạnh của quốc gia và thể hiện bộ mặt của xã hội. Bảo tồn, kế thừa và phát triển múa dân gian Thái là nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu khoa học, của các cơ quan văn hóa. Và, đó là nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng nền nghệ thuật múa Việt Nam “ Tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ”.

Tài liệu tham khảo :
–  Lê Ngọc Canh ( 2002 ), Đại cương nghệ thuật Múa.
– Lâm Tô Lộc ( 1985 ), Xòe Thái.
– Chí Thanh ( 1998 ), Di sản Múa dân gian vùng Tây Bắc.

(Nguồn: http://cdmuavn.edu.vn/)


Đăng ký: Bản tin Văn hóa Nghệ thuật
Nguồn tin

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Một số đặc điểm của múa dân gian

hanhfm @ nguontinviet.com

Việt Nam có 54 dân tộc. Mỗi dân tộc đều có những điệu múa dân gian của dân tộc mình. Các dân tộc Việt Nam đã để lại cho thế hệ sau một kho tàng nghệ thuật múa quý giá. Nhìn từ góc độ nghệ thuật múa, có thể nói di sản múa dân gian là cơ sở tiêu biểu xác định bản sắc múa của mỗi tộc người. Trong một xã hội hiện đại, khoa học kĩ thuật phát triển, di sản múa dân gian đối với sự phát triển của ngành múa chuyện nghiệp Việt Nam trở nên rất quan trọng. Muốn đổi mới, cách tân thì cần phải nghiên cứu, xác định và hiểu đâu là giá trị đích thực cần phải kế thừa. Nói cách khác, cần phải tìm ra hằng số giá trị của múa dân gian.

Quan sát, nghiên cứu các điệu múa dân gian, chúng ta có thể nhận biết được thái độ, ý thức, thẩm mĩ trong lao động của người xưa. Những hình ảnh trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, trong các mối quan hệ xã hội, trong phong tục tập quán, trong đời sống tâm linh… được thể hiện trong múa dân gian có vị trí và ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hoá của các tộc người. Múa dân gian biểu hiện tri thức văn hoá của quần chúng nhân dân, biểu hiện bản chất múa của văn hoá dân tộc. Múa dân gian phản ánh sức sáng tạo, tài năng của nhân dân.

Ngoài ra, múa dân gian còn có tác dụng thiết thực đối với tình cảm và đời sống của con người. Múa dân gian được thể hiện trong các lễ thức (múa tín ngưỡng). Những động tác biểu hiện thế giới tâm linh của con người (cầu mong sự che chở, phù hộ của các đấng thần linh, trời, Phật… ). Ngoài ra, từ thuở xa xưa, qua các điệu múa, người dân còn muốn truyền lại các kinh nghiệm lao động sản xuất, săn bắt… Múa dân gian còn thể hiện những hành vi ứng xử của con người, tạo môi trường không gian để con người đến với nhau. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong sinh hoạt văn hoá dân gian ở làng, bản như xoè vòng của dân tộc Thái, xoè chiêng của dân tộc Tày. Hoặc có thể lấy ví dụ rõ hơn như múa lăm vông của người Lào. Có những điệu múa dân gian cũng mang ý nghĩa đạo đức nhưng được thể hiện ở góc độ khác nhau. Ví dụ một số điệu múa dân gian như múa dô (gắn với tục thờ Tản Viên), múa dậm (gắn với tục thờ Lý Thường Kiệt), múa cờ lau tập trận (trong hội Hoa Lư), múa chèo tàu (gắn với tục thờ các tướng của Hai Bà Trưng), hay là múa dân gian trong hội đền Hùng, hội Gióng (gắn với tục thờ Phù Đổng Thiên Vương). Những điệu múa đó tuy đơn giản, phức tạp khác nhau, mức độ, quy mô khác nhau tuỳ theo điều kiện của từng địa phương, từng cộng đồng người… những đều thể hiện tình cảm của con người, đồng thời qua đó phản ánh những giá trị đạo đức cổ truyền của nhân dân. Đó là lòng tôn kính và biết ơn với các anh hùng dân tộc. Những giá trị đó được lưu giữ và tồn tại có tính bền vững trong dân chúng. Bài học đạo đức được thể hiện qua múa dân gian có ý nghĩa giáo dục đối với các thế hệ; đó là lòng yêu nước, cuộc sống tình nghĩa, tình yêu quê hương, thiên nhiên…

Nếu như so sánh múa dân gian người Việt nói chung với múa dân gian của các nước khác, như múa dân gian Nga chẳng hạn, chỉ nghiên cứu riêng về “cường độ” (độ mạnh, nhẹ), tiết tấu (nhanh, chậm) đã có sự khác nhau cơ bản. Đa số các bước chân của múa dân gian dân tộc Việt đều bước đi rất nhẹ nhàng. Có nhà nghiên cứu cho rằng, do người Việt chủ yếu là cư dân nông nghiệp sống ở đồng bằng, địa hình bằng phẳng, có thói quen đi chân đất, thích một cuộc sống hiền lành, êm đềm… Vì thế, phong cách sống của họ đã ảnh hưởng đến bước đi trong múa. Ngược lại, dân tộc Nga ở xứ lạnh, đương nhiên không ai đi chân không trên tuyết. Đôi giày đối với họ hết sức quan trọng. Vào mùa đông, đi từ nơi khác về đến trước cửa nhà , mọi người đều có thói quen dẫm thật mạnh nhiều lần trên bậc cửa cho tuyết rơi xuống đất. Thói quen đó đã được đưa vào múa dân gian. Nhiều điệu múa dân gian Nga, từ đầu cho đến cuối tác phẩm, môtip chính chỉ là động tác dậm chân. Những động tác đó được thể hiện ở những cường độ, tiết tấu khác nhau, tạo nên sức hấp dẫn khác nhau. Nếu so sánh về tiết tấu, nhịp độ thì múa Nga nhanh và mạnh hơn hẳn múa Việt. Nhanh và chậm đó cũng là biểu hiện sắc thái, tình cảm, thẩm mĩ rất quan trọng trong nghệ thuật múa, bản sắc dân tộc của múa.

Qua ví dụ vừa nêu, có thể thấy rằng, một trong những đặc điểm của múa dân gian của người Việt là tính chất nhẹ nhàng, uyển chuyển, chậm rãi.

Do luôn luôn tồn tại và phát triển qua nhiều thế hệ, múa dân gian thường không có một cấu trúc ổn định, hay nói cách khác, đó là cấu trúc mở. Do có cấu trúc mở, múa dân gian không ngừng được bồi đắp và bổ sung những sáng tạo mới của các thế hệ tiếp theo với mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá của cộng đồng, khu vực, quốc gia. Những bồi đắp mới, bổ sung mới được dân chúng chấp nhận, lưu giữ và sử dụng sẽ trở thành di sản của văn hoá dân tộc, đồng thời là cơ sở, nền tảng cho những sáng tạo bổ sung của các thế hệ nối tiếp. Cấu trúc mở của múa dân gian là luôn sẵn sàng đón nhận những sáng tạo, bổ sung hoặc một sự điều chỉnh mới cho hoàn chỉnh hơn. Do những sáng tạo của múa dân gian mang tính tự nguyện, thâu nhận vào mình một cách tự nhiên, tự nguyện, tự giác nên khác với múa chuyên nghiệp, múa dân gian không cần phải xác định “quyền tác giả”. Tác giả của múa dân gian chính là số đông dân chúng, là nhiều vùng, nhiều thời đại.

Múa dân gian là một hình thái múa phổ biến trong nhân dân. Thông qua các diệu múa, chúng ta thấy nó mang dấu ấn một cách sinh động cuộc sống lao động, chiến đấu, tình cảm, cách nghĩ và những quan điểm thẩm mĩ của các cộng đồng, các tộc người, xuất phát từ những điều kiện địa lí, xã hội, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc khác nhau. Sự khác nhau đó xét về một khía cạnh nào đó cũng chính là sự thể hiện bản sắc riêng của từng dân tộc.

Múa dân gian được cách điệu từ cuộc sống lao động, sinh hoạt… của nhân dân. Trong kho tàng múa dân gian Việt Nam mà cho đến nay chúng ta còn lưu giữ được, chiếm số lượng lớn là các điệu múa thể hiện trong lao động nông nghiệp. Do đó, có thể nói, múa người Việt thể hiện cuộc sống của các cư dân nông nghiệp. Ví dụ như múa gặt lúa, múa chạy cày, múa xúc tép, múa soi đèn bắt cá,…

Múa dân gian do mô phỏng hiện thực nên mặc dù đã được cách điệu hoá vẫn mang tới cho người xem những thông điệp sát thực. Điều này được thể hiện cả hai chiều. Chiều thứ nhất là tự thận điệu múa được “tác giả dân gian” ghi nhận trong thực tế, từ đó sáng tạo nên. Chiều thứ hai là người thể hiện (người trình bày điệu múa) cũng hết sức cố gắng bắt chước hiện thực cộng với yếu tố sáng tạo cá nhân trong quá trình thể hiện cũng mang lại những tín hiệu chân thực và có sức hấp dẫn.

Ví dụ, khi quan sát điệu múa dệt vải. Đây là điệu múa dành cho nữ, vì thế, tính chất của điệu múa là rất mềm mại, nhịp nhàng, nữ tính. Hai bước chân đối nhau, tiến lên đều đặn. Nhìn động tác này, nếu ai biết chút ít về nghề dệt vải sẽ hình dung thấy hai chân cô gái như đang “đạp cửi” (bộ phận chuyển sợi dọc của tấm vải). Hai tay mở ra, thu về trước bụng, đổi nhau trên dưới đều đặn, mắt nhìn gần theo dõi hai bàn tay chuyển động. Người xem có thể nhận ra ngay hành ảnh cô gái đang ngồi bên khung cửi dệt vải với hai bàn tay nhịp nhàng đưa thoi. Có thể xem xét một ví dụ khác, đó là múa chèo đò. Mặc dù múa tay không, nhưng ngưòi xem có thể cảm nhận được ngay không gian của vùng sông nước. Với dáng người khi đổ về phía trước, khi ngả về phía sau, người xem có thể tưởng tượng được hình ảnh của dòng sông, mái chèo và con thuyền. Các tộc người ở khu vực Tây Nguyên có động tác đánh chiêng cũng thể hiện rất rõ đặc điểm này. Cũng như động tác “chèo đò”, không có đạo cụ, động tác “đánh chiêng” chỉ dùng tay không nhưng khi múa, người xem có thể hình dung được ngay hình ảnh trong thực tế.

Một số diệu múa phản ánh cuộc sống lao động, mặc dù đã được cách điệu hoá nhưng đều rất gần với đời thực. Từ đó có thể nói rằng, tính hiện thực là một trong những đặc điểm của múa dân gian.

Như chúng tôi đã nêu ở trên, ở Đan Mạch, người ta đã sử dụng động tác giặt áo của phụ nữ để sáng tạo nên một điệu múa dân gian. Nội dung, hình ảnh nhận biết trong các điệu múa dân gian đều rất gần gũi với con người, nó thể hiện một cách sinh động tình yêu cuộc sống của họ đố với cuộc sống lao động, với thiên nhiên…

Thông qua hình ảnh các điệu múa dân gian có thể cho chúng ta những thông tin về lịch sử, về địa lí, về môi trường sinh thái.

Việt Nam có nhiều sông nổi tiếng như sông Hồng (ở miền Bắc), sông Hương (ở miền Trung), sông Cửu Long (ở miền Nam)… Ngoài ra còn có rất nhiều con sông khác được phân bố khắp nơi như: sông Đáy, sông Mã, sông Cả, sông Gianh, sông Đà Rằng,… Có lẽ, bắt nguồn từ đặc điểm địa lí Việt Nam có nhiều sông ngòi mà động tác múa “chèo thuyền” trở nên rất phổ biến trong múa dân gian của các dân tộc từ Bắc vào Nam. Những công việc lao động trên sông nước được bộc lộ ở những thao tác và kĩ năng khác nhau. Vì thế, trong múa cũng biểu hiện ở những cường độ và tiết tấu khác nhau.

ở một số nước châu Âu, mùa đông thường có băng, tuyết. Người dân đi lại trên đường đều tỏ ra vội vã, khẩn trương. Có lẽ, họ di chuyển nhanh để tránh giá lạnh ngoài trời, nếu phải đứng ở đâu chờ đợi ai, thường thì mọi người không chịu đứng im. Và, để cho cơ thể ấm nóng lên, họ đã liên tục dậm chân xuống mặt đất. Họ dậm chân để cho tuyết rơi khỏi áo khoác, đồng thời để tránh rét. Đây là hình ảnh quen thuộc đối với các nước xứ lạnh. Có lẽ, chỉ ở các nước băng giá người dân mới có những động tác như vậy. Theo chúng tôi, đây là lí do khởi nguồn cho một số điệu múa dân gian châu Âu.

Trong đời sống văn hoá tâm linh của nhân dân có một loại múa đó là múa tín ngưỡng. Một số nhà nghiên cứu gọi đó là múa tín ngưỡng dân gian. Loại múa này tương đối phổ biến ở nhiều tộc người. Múa tín ngưỡng thể hiện cho các loại nghi lễ. Ví dụ, người Việt có múa tín ngưỡng hầu bóng, còn gọi là múa lên đồng. Đây cũng là một hình thái múa dân gian rất độc đáo. Loại múa này tồn tại, phát triển trong quá trình hình thành tục thờ Mẫu và đạo Mẫu ở Việt Nam. Múa hầu bóng là một bộ phận của chương trình lễ hội và nghi lễ đạo Mẫu. Nhìn từ góc độ ín ngưỡng thì động tác, điệu bộ của người múa thể hiện tếng nói, ý nguyện của thánh thần. Nét độc đáo của múa hầu bóng đó là (theo quan niệm dân gian) phần xác (ông đồng, bà đồng) là của con người, còn phần hồn là của thánh thần. Điều này nói lên sức tưởng tượng của con người rất lớn. Con người và thánh thần có thể gần gũi, hoà quyện với nhau. Đây là lí do làm cho các động tác múa trong hầu bóng trở nên phóng khoáng và tự do hơn. Nếu nhìn từ góc độ nghệ thuật thì đây là yếu tố rất đặc biệt của múa hầu bóng. Ông đồng, bà đồng, ngoài những động tác múa mang tính quy ước cần phải thể hiện, còn có những động tác ngẫu nhiên xuất hiện ở thời điểm mà người ta gọi là nhập đồng (nhập hồn). Ông đồng, bà đồng thoạt đầu ngồi trong tư thế tĩnh, tập trung cao, người ngoài có cảm giác họ quên hết mọi sự vật xung quanh, chỉ còn tiếng đàn phách của cung văn và lời khấn tụng của con nhang, đệ tử. Dần dần, ông đồng, bà cốt bắt đầu đảo vòng, xoay tròn từ thắt lưng trở lên. Từ vòng nhỏ đến vòng to, từ tiết tấu chậm đến nhanh Âm nhạc, tiết tấu, lời ca càng dồn dập, thôi thúc, ông đồng, bà đồng càng xoay, đảo mạnh, càng ngây ngất, say sưa. Họ hất khăn đội đầu ra và thời điểm đó được gọi là nhập đồng (nhập hồn). Động tác múa lúc này không còn giữ được quy cách, khuôn định như ban đầu nữa. Tính ngẫu hứng được biểu hiện ở mức độ rất cao, có nghĩa là cùng một thời điểm, con người vừa trình diễn, vừa sáng tạo. Như vậy, trong môi trường nghi lễ, trong “thời điểm mạnh” cùng với sự tác động của khách quan (âm thanh, đàn, nhạc, khói hương và những người hầu đồng) thì ông đồng, bà đồng đã ngẫu hứng, sáng tạo mạnh hay nhẹ tuỳ theo cường độ, sắc thái, tiết tấu trong thời điểm đó. Tất nhiên, yếu tố chính vẫn là năng lực cảm nhận và biểu hiện của ông đồng, bà đồng. Như vậy, trong hoàn cảnh này, múa dân gian đã được đẩy lên ở một mức độ cao hơn.

Cấu trúc của múa hầu bóng thuộc loại múa đơn (solo). Đây là múa một người nhưng phải thể hiện những nhân vật, những giá đồng khác nhau. Vì thế, nó đòi hỏi ở người thể hiện phải có kĩ thuật, kĩ xảo nhất định. Khác với múa dân gian trong lao động, trong sinh hoạt… loại múa hầu bóng không phải ai cũng có thể múa được mà nó đòi hỏi cần có một “năng khiếu”, một sự luyện tập tương đối công phu, thậm chí phải có “căn đồng” mới có thể múa được. Ngoài lí do tín ngưỡng, múa hầu bóng phải tạo ra sức hấp dẫn, thu hút mọi người. Sức hấp dẫn là một trong những chức năng của nghệ thuật, do đó, có thể nói, múa hầu bóng còn mang yếu tố biểu diễn. Múa hầu bóng có môi trường hoạt động đặc biệt như chúng tôi đã phân tích ở trên. Nhìn từ góc độ chuyên môn thì đây là điều kiện khách quan để kích thích sự “thăng hoa” của người trình diễn.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đạo Mẫu, thờ Mẫu là một tục lệ đẹp của cộng đồng người Việt. Không chỉ ở miền Bắc mà ở miền Trung và miền Nam cũng đều có thờ Mẫu.

Hiện nay, những hoạt động lễ hội tương đối phát triển, thu hút khá đông quần chúng nhân dân ở khắp mọi nơi. Múa hầu bóng là một trong những sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng không chỉ diễn ra vào những dịp lễ hội mà còn phát triển bên ngoài của lễ hội, do một số cá nhân tự tổ chức. Đây là một hiện tượng múa dân gian rất độc đáo.

Ngoài múa hầu bóng của cộng đồng người Việt còn có một số điệu múa trong nghi lễ của một số tộc người như: người Mường có múa mỡi, múa mo, múa sắc bùa; người Tày có múa tung còn trong hội lồng tồng (xuống đồng), múa then, múa đi săn thú, múa chèo thuyền; người Thái có múa tín ngưỡng kinpangthen; người Dao có múa trong lễ cấp sắc, hát múa đám cưới, đám tang, múa Tết nhảy (nhì ang chằm đao); người Chăm có múa trong lễ hội Chà Và, múa trong lễ bóng, múa nhảy lửa, múa gậy, múa roi; người Khơ me có múa thày cúng, múa trống lễ (trống xayăm) cúng trăng, múa dây bông (slatho) v.v..

Như phân tích ở phần trên, múa dân gian có một cấu trúc mở, nó không bất biến và luôn thu nhận những yếu tố mới vào mình. Trong tiến trình lịch sử, qua nhiều thế hệ, nó được bồi đắp, bổ sung cho phù hợp và ngày càng hoàn chỉnh hơn.

NSND Ứng Duy Thịnh


Đăng ký: Bản tin Văn hóa Nghệ thuật
Nguồn tin

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Đặc Trưng Nghệ Thuật Múa

hanhfm @ nguontinviet.com

1.Sự phát triển.

Nghệ thuật múa những năm đầu thế kỷ XXI, công chúng hâm mộ chủ yếu là múa tạp kỹ, nhảy múa, múa ba lê, còn khoảng cách. Ngôn ngữ múa biểu cảm có phần trừu tượng hoặc phương pháp tạo hình động biến đổi nhanh, nhiều động tác ước lệ chưa biểu cảm trực tiếp trong nhận biết số đông công chúng.

Những năm 1954, sau 1975 bình thường sử dụng khái niệm “vũ”, là từ Hán bao gồm những biến thể nghệ thuật nhảy múa. Nhiều thuật ngữ Hán ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống xã hội và nghệ thuật văn hoá Việt. Sau 1954 còn sử dụng từ Hán trong ngôn ngữ giao tiếp, nhưng đa số công chúng bình dân thường sử dụng tiếng Việt gọi tên các đoàn nghệ thuật là: ban hát, đoàn kịch… không sử dụng từ Hán. Trong kháng chiến hai cách sử dụng ngôn ngữ cứ đan xen nhau, gọi là: đội tuyên văn, đội tuyên truyền Việt Minh, đoàn ca vũ… Năm 1951, Nhà nước chính thức công nhận thuật ngữ ‘đoàn văn công” khi Bộ Văn hoá ra quyết định thành lập đoàn nghệ thuật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gọi là: Đoàn [1]Văn công Nhân dân Trung ương, đến năm 1954 đổi thành Đoàn Ca vũ Nhân dân Trung ương lại thêm từ Hán (vũ) thay cho từ múa. Sau đó, Đoàn Ca vũ đổi thành Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương.

Khái niệm ca múa phổ biến trong ngôn ngữ đại chúng và văn bản Nhà nước. Những thay đổi ấy như bước thăng trầm định mệnh, múa còn bỡ ngỡ trước công chúng, trải nhiều thập kỷ múa dần phổ biến được số đông đón nhận, xem là nét sinh hoạt văn hoá. Nhảy múa là nghệ thuạt cổ xưa, ra đời cùng loại hình âm nhạc trong bầy người nguyên thuỷ cách đây 3000 * năm trước công nguyên với đặc trưng biểu cảm trực tiếp niềm vui, sự chiến thắng, kết quả săn bắt thú… bằng động tác biểu cảm các hoạt động đời sống con người. Múa là nghệ thuật tạo hình không gian động, lấy con [2][3]người và đạo cụ làm ngôn ngữ ước lệ, tái hiện các hoạt động đời sống xã hội. Nghệ thuật nhảy múa nguyên thuỷ mang tính tôn giáo – ma thuật, chưa tách khỏi nghi lễ tâm linh. Vào thế kỷ thứ I năm 96 1 sau công nguyên, loài người phát triển nẩy sinh các thứ bậc xã hội, múa phân hoá biến đổi thành nhảy múa sinh hoạt dân dã, múa nghi lễ mang tính chuyên nghiệp trong các tu viện, nhà thờ châu Âu. Khoảng năm 476 2 , kết thúc chế độ chiếm hữu nô lệ mở ra chế độ phong kiến châu Âu kéo dài đến năm 1640 3 , đây là thời kỳ phát triển múa chuyên nghiệp, hình thành vũ công, đội múa trong các nhà quý tộc, phong kiến. Múa chuyên nghiệp chia thành nhảy múa tạp kỹ, múa ba lê.

Múa tạp kỹ là tiết mục nhảy múa riêng, dựa trên chất liệu múa dân gian hoặc hiện đại cấu thành điệu nhảy mang nội dung cốt truyện, một cảnh múa, diễn trong chương trình ca múa tổng hợp nghệ thuật tạp kỹ.

Múa ba lê (Balette) ra đời thế kỷ XVII (năm 1661)*, từ múa cung đình Pháp, phát triển sang Ý, Nga… là nghệ thuật tổng hợp đỉnh cao tạo hình múa. Múa ba lê, cấu trúc tác phẩm bằng các nhân tố: kịch bản văn học, âm nhạc, nhảy múa đích thực nghệ thuật tạo hình múa. Múa ba lê, cấu trúc nhiều loại nhảy múa: sô lô, tam tứ, nhảy múa tập thể – màn ba lê tạo hình. Cấu trúc vở múa ba lê sử dụng ba thành phần: Nhảy múa ba lê, múa điệu bộ ước lệ tượng trưng, nhảy múa giải trí.

Múa ba lê, tạo dựng hình tượng biểu cảm nội dung tình cảm tư tưởng kịch bản múa.
Múa điệu bộ, nhảy múa mang tính diễn xuất tái hiện lại những động tác biểu đạt tình cảm nhân vật, miêu tả tình huống hoàn cảnh theo sát nội dung kịch bản múa.

Nhảy múa giải trí, không phát triển hành động kịch múa, là những tiết mục riêng diễn tả tính cách, trạng thái tình cảm nhân vật, hoặc tạo không khí vũ hội, xây dựng môi trường sống các nhân vật kịch múa.

Những điệu nhảy ra đời năm 570 sau công nguyên ở Tây Ban Nha lan truyền sang Achentina, Áo, Mỹ… đến thời đại xã hội công nghiệp 1919, chia thành bốn loại: múa dân gian, múa tạp kỹ, kịch múa ba lê, nhảy múa sinh hoạt đại chúng ra đời cùng nhạc rock…

Những năm cuối thế kỷ XX, xuất hiện nhảy múa thể thao, kết hợp con người, đạo cụ làm ngôn ngữ biểu cảm thẩm mỹ. Nhảy múa thể thao thay đổi căn bản ngôn ngữ nghệ thuật là các đạo cụ: cái vòng, rải lụa, chiếc khăn, đôi giầy ba tanh, dụng cụ nhào lộn trên không, vũ điệu dưới nước bơi tạo hình… Ngoài ra còn múa do động vật trình diễn trong rạp xiếc, bằng những động tác tự nhiên nhào lộn, nhảy theo điệu nhạc trữ tình, hài hước… mang tính mỹ học, một tinh thần trí tuệ mà công chúng khâm phục hào hứng. Múa đồ vật, là nghệ thuật tung hứng, uốn dẻo tạo hình nhào lộn trên thang, dây dọc… là những sáng tạo ngôn ngữ múa hiện đại. Ba hình thức múa mới được công nhận bởi nằm trong cấu trúc loại hình nghệ thuật không thời gian, diễn cảm trực tiếp bằng tạo hình trừu tượng, không miêu tả trong cấu trúc tác phẩm.

Quá trình phát triển nhảy múa cấu thành các thể loại: múa dân gian, nhảy múa tạp kỹ, kịch múa ba lê, nhảy múa thể thao, nhảy múa đại chúng có hàng chục loại biến tướng khác nhau rock – rap, rock, hard rock, pop rock, rock heavy me tal, rock & roll, rock dance… nhảy múa động vật, nhảy múa đồ vật. Những hình thức nhảy múa mới ra đời là sự lớn mạnh nghệ thuật múa, đáp ứng mọi đối tượng khán giả mang tính đại chúng.

2.Đặc trưng nghệ thuật múa.

Múa thời hiện đại, hậu hiện đại nhiều thể loại đan xen hoà nhập vào các loại hình nghệ thuật không – thời gian đầy biểu cảm thẩm mỹ. Nghệ thuật nhảy múa mang đặc trưng ngôn ngữ tạo hình biểu cảm trực tiếp trong cấu trúc tác phẩm, bằng những quy phạm chuyển động ngôn ngữ nghệ thuật.

Những hình thức cấu trúc tác phẩm múa tạp kỹ, là các điệu múa đơn lẻ thường bố cục thể một đoạn, hai đoạn hoặc ba đoạn. Nguyên tắc phát triển ngôn ngữ múa thường lấy chất liệu dân gian hoặc những động tác múa hiện đại phương Tây, xây dựng chủ đề, phát triển có nhắc lại hoặc biến hoá. Xem một điệu múa ngắn thường thấy đoạn A, các thủ pháp phát triển ngôn ngữ tạo hình nhắc lại và kết thúc. Loại dài có thể cấu trúc hai đoạn A – B, A – B – A’ , hoặc A – B – C. Múa sử dụng động tác ước lệ diễn tả bằng các loại chuyển động đội hình: vòng cung, hàng dọc, hàng ngang, vòng tròn, chữ V và các biến thể của những quy ước trên làm phong phú kỹ thuật tạo hình múa. Những động tác múa không bắt chước hiện thực cuộc sống, thường mô tả hình tượng diễn biến nội tâm con người, nhân vật múa bằng động tác ước lệ tạo hình. Múa là nghệ thuật diễn viên gần với sân khấu, nhưng phản ánh quy luật tình cảm con người bằng động tác biểu cảm. Mỗi dân tộc, tác giả có những quy ước riêng, khi sáng tác động tác múa sắp xếp thành hệ thống động tác chuyển động trong câu múa biểu đạt một ý tưởng. Nhiều câu múa liên kết thành tác phẩm có chủ đề, ý tưởng diễn tả cao trào, tính kịch và kết thúc. Những động tác ước lệ múa biểu cảm của các dân tộc: múa xoè, múa sạp Thái, nhiều người đã biết, nhảy múa toàn thân, đôi tay chuyển động cùng những bước nhảy biểu hiện niềm vui rộn ràng. Múa Then Tày Nùng, ngôn ngữ động tác chuyển động nửa thân phía trên làm chủ đạo. Luật chuyển động đôi cánh tay, vai và ngực tạo tuyến gấp khúc thành đường vòng cung, cổ tay nhấn nẩy biểu cảm mạnh, diễn tả tính ma thuật, huyền bí. Nhìn vào đôi mắt nét mặt bà Then sẽ thấy cái âm u trầm cảm, khi bùng phát bất ngờ, lúc trầm tư như đang đối thoại với thần quyền tà ma… Múa cổ điển đồng bào Khơ me Nam Bộ, ước lệ động tác bất biến chào khán giả, tay trái ngửa ngang ngực, tay phải giơ ra phía trước. Động tác chém cá sấu: hai tay cuộn ngửa, tay trái co, tay phải vươn ra chặt xuống. Khi khóc: hai tay khoanh lại, buồn tay chống cằm… Muốn hiểu múa phải theo dõi liên tục hệ thống động tác chuyển động, quan sát nét mặt, đôi mắt diễn viên là hệ thống biểu cảm nghệ thuật nghe nhìn tổng hợp.

Múa có nhiều loại hình ngôn ngữ khác nhau nhưng đặc trưng là:
– Nghệ thuật tạo hình không gian động, ngôn ngữ ước lệ biểu cảm trực tiếp.
– Cấu trúc động tác trừu tượng tạo hình tượng, cảm xúc thẩm mỹ.
– Là loại hình nghệ thuật không thời gian, nghe nhìn tổng hợp.

Múa phát triển trong đời sống xã hội cổ xưa đến thời đại công nghệ, hình thành bẩy thể loại, mỗi thể loại ngôn ngữ biểu cảm riêng, cần nhận biết ba hình thức cơ bản. Nhảy múa sinh hoạt vũ hội đại chúng mang lại niềm vui, thoả mãn người nhảy múa. Nhảy múa chuyên nghiệp, trình diễn trên sân khấu là nghệ thuật tạo hình chuyển động theo thời gian, vận động biến đổi biểu cảm trực tiếp nội tâm con người, thể hiên đời sống xã hội, đáp ứng công chúng. Nhảy múa tâm linh là nghệ thuật nghi lễ, không để công chúng xem mà mang lại chân ngã thượng thức./.

Hà Nội tháng 9 năm 2010.

* Theo Lịch sử phật giáo.
1.2.3 Theo trang 3 Lịch sử thế giới trung đại – NXB Giáo dục 2003.
* Theo Phạm Ngọc Chi trang 128 – Âm nhạc và múa thế giới – NXB Thế giới – 2002.

Tuấn Giang


Đăng ký: Bản tin Văn hóa Nghệ thuật
Nguồn tin

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Vở ballet “Hồ thiên nga” với công nghệ 3D trình diễn tại Việt Nam

hanhfm @ nguontinviet.com

Hồ Thiên Nga là vở ballet số 20 của Pyotr Ilyich Tchaikovsky, sáng tác khoảng năm 1875-1876. Vở kịch được dựng dựa trên những truyện cổ tích Nga cũng như một truyền thuyết xa xưa của Đức, kể về Odette, một nàng công chúa bị phù phép thành thiên nga. Vở ballet được công diễn lần đầu ngày 4 tháng 3 năm 1877, tại nhà hát Bolshoi, Moskva với tên Hồ Thiên Nga.

Mặc dù được được diễn lại với nhiều phiên bản khác nhau, hầu hết các phiên bản được dựa trên bản năm 1895 của Marius Petipa and Lev Ivanov, cả về phần âm nhạc lẫn biên đạo múa.

Cho tới khi vở diễn được dàn dựng dưới sự chỉ đạo nghệ thuật của Huyền thoại Ballet Thế giới: Mikhail Leondovich Lavrovsky cùng đoàn Ballet Liên Bang Nga Talarium Et Lux – thì lần đầu tiên khán giả được thưởng thức  vở diễn Ballet kinh điển Hồ Thiên Nga trong thế giới 3D với hình ảnh sinh động theo từng vũ điệu uyển chuyển của các vũ công.

Vở diễn sử dụng công nghệ hiện đại nhất: Do đội ngũ kỹ thuật hình ảnh từng tham gia dàn dựng bối cảnh 3D (multimedia) của Thế vận hội mùa đông Sochi, Nga.

Talarium-Et-Lux-Swan lake

Nhà hát Ballet Nga Talarium Et Lux chính là nhà hát đã hợp tác với công ty Panasonic (phụ trách dàn dựng ánh sáng laze trong buổi lễ khai mạc và bế mạc tại Thế vận hội mùa đông Sochi) sử dụng công nghệ laze 3D tân tiến nhất, thông qua 2 năm thử nghiệm để sáng tạo nên hình thức biểu diễn chưa từng có trong lịch sử trình diễn ballet.

Màn trình diễn đã góp phần thay đổi cách thưởng thức ballet truyền thống, mang đến bối cảnh đa chiều, hiệu ứng chân thực trong từng phân cảnh, hình ảnh kì ảo của nhân vật cũng như những trải nghiệm mà trình diễn ballet truyền thống chưa đem tới được.

Vở kịch (Hồ Thiên Nga) của nhà hát vũ kịch balet Nga là màn biểu diễn đầu tiên kết hợp hoàn hảo giữa tác phẩm kịch kinh điển với công nghệ biểu diễn hiện đại.

Năm 2012 Vở kịch ballet Hồ Thiên Nga của nhà hát vũ kịch ballet Nga đã gây tiếng vang lớn khi lần đầu công diễn tại Matxcơva, tiếp sau đó nó tiếp tục gặt hái thêm nhiều thành công khi đi biểu diễn tại Pháp, Thụy sĩ, Bỉ, Đức, Mỹ, Úc và các quốc gia khác.

Hình ảnh nghệ sĩ múa ballet trình diễn trên nền ánh sáng 3D

Hình ảnh nghệ sĩ múa ballet trình diễn trên nền ánh sáng 3D

Ballet và công nghệ ánh sáng

Những vở ballet kinh điển được biên đạo kỳ công đồng thời được kết hợp cùng công nghệ hiện đại của ánh sáng và truyền thông đa phương tiện đã tạo nên những giá trị di sản vô giá của Ballet xứ sở Bạch dương.

Mục tiêu của các nghệ sĩ ballet Nga là luôn hướng tới nghệ thuật cao cấp, sự sáng tạo được thể hiện tinh xảo qua không gian công nghệ sân khấu hiện đại.

Khán giả sẽ thực sự bị cuốn hút vào câu chuyện cổ tích được diễn trên sân khấu như những nhân chứng sống và cảm nhận được khung cảnh, thời điểm cùng hoàn cảnh diễn ra các tình tiết trong vở kịch. Những hiệu ứng hiện đại sẽ thôi miên khán giả vào một thế giới khác.

Rõ ràng công việc này không dễ dàng nhưng chúng tôi sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Để thu hút sự chú ý đến những tác phẩm kinh điển, chúng tôi tạo ra những màn trình diễn sử dụng những thiết bị đa phương tiện, và chúng tôi sẽ sáng tạo ra những màn trình diễn mới độc đáo giữa cái truyền thống cổ điển với sân khấu sáng tạo từ công nghệ hiện đại.

Đối với chúng tôi “Ba lê và ánh sáng” không chỉ là một từ ghép mà là một ý tưởng từ mục đích muốn giới thiệu Ba lê Nga trong phối cảnh hay sự kết hợp ánh sáng mới mẻ cùng loại hình hiện đại.” – Người chỉ đạo nghệ thuật của rạp hát Nga “Talarium et Lux” là nghệ sĩ nhân dân Liên Bang Nga, là một vũ công huyền thoại, một bậc thầy ba lê và là một huấn luyện viên múa Mikhail Leonidovich Lavrovsky đã chia sẻ.

Nhiều thập kỷ qua, ông đã phối hợp với những đoàn ballet nổi tiếng nhất thế giới, ông không ngừng tạo ra những sản phẩm nghệ thuật ba lê mới và mở ra những tên tuổi mới trong loại hình nghệ thuật này.

Giám đốc nhà hát Talarium Et Lux, đồng thời là người chỉ đạo nghệ thuật vở "Hồ thiên nga" - "huyền thoại" ballet Mikhail Lavrovsky

Giám đốc nhà hát Talarium Et Lux, đồng thời là người chỉ đạo nghệ thuật vở “Hồ thiên nga” – “huyền thoại” ballet Mikhail Lavrovsky

Sự kết hợp giữa vũ đạo và giải pháp thiết kế đồ họa trong những màn trình diễn sẽ làm khán giả cảm thấy như bị thôi miên bởi ảo cảnh của các nhân vật trên sân khấu.

Vở diễn kinh điển Hồ thiên nga được thực hiện bởi nhà hát ballet Talarium Et Lux với sự chỉ đạo nghệ thuật của Mikhail Leonidovich Lavrovsky, biên đạo múa Marina Yurievna Aleksandrova, Yuriy Anatolievich Romashko, nghệ sỹ chính: E. Nebesnaya, S. Smirnov.

Hồ thiên nga đến Việt Nam một đêm duy nhất vào ngày 1/8/2015 tại Trung tâm hội nghị Quốc gia, Hà Nội. 

(Nguồn Internet)


Đăng ký: Bản tin Văn hóa Nghệ thuật
Nguồn tin

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2015

Vọng phu biển – lãng mạn & hiện đại

hanhfm @ nguontinviet.com

Vở múa đương đại Vọng phu biển (biên đạo Phúc Hải – Phúc Hùng) mang màu sắc lãng mạn, nhiều cảm xúc, sẽ chính thức ra mắt tối 9/7 tại Nhà hát TP.HCM.

Không có câu chuyện, chương-hồi cụ thể rõ ràng, kịch múa Vọng phu biển (The waiting women) với sự tham gia của các nghệ sĩ Hoàng Yến, Thu Trang, Thùy Trang và các diễn viên Nhà hát giao hưởng nhạc vũ kịch TP.HCM (HBSO), là một trường đoạn lãng mạn về người phụ nữ hiện đại, bay bổng và gợi cảm.

Lòng thủy chung, trọn tình vẹn nghĩa, yêu chồng thương con của người phụ nữ không thể hiện qua những câu chuyện cụ thể của chiến tranh, mà bằng sự cảm nhận của khán giả qua phần “gợi ý” từ các động tác múa mới mẻ.

Biên đạo Phúc Hùng, tác giả nhiều vở diễn nổi bật

Sân khấu được thiết kế hiện đại, phá cách, khác sự “ước lệ” cũ kỹ của các vở múa truyền thống. “Khi ra Trường Sa, giữa buổi trưa tôi bước ra ngoài, không phân biệt được màu trời và màu nước vì màu xanh quá giống nhau. Tôi muốn thể hiện màu xanh ấy trên sân khấu, tạo hiệu ứng thị giác” – biên đạo Phúc Hùng cho biết.

Nhạc nền của vở diễn dài 25 phút là thanh âm đàn cello của nghệ sĩ Giovanni. Trang phục cũng được chăm chút. Diễn viên được thiết kế trang phục riêng màu trắng để kết hợp hiệu ứng ánh sáng, với phần trên ôm sát cơ thể tôn đường cong và những chuyển động, phần dưới bay bổng đồng điệu với sự mềm mại của diễn viên nữ.

Lấy cảm hứng từ hình tượng nàng Tô Thị ôm con chờ chồng, nhưng hai biên đạo Phúc Hải – Phúc Hùng đem đến hình ảnh mới, hiện đại: “Chúng tôi muốn đem cái hào sảng của biển cả vào tích cũ. Việt Nam có bờ biển trải dài, bất kì đâu dọc theo dải đất hình chữ S này, ta cũng có thể bắt gặp những nàng Tô Thị hiện đại”.

Hai biên đạo không dùng ngôn ngữ múa truyền thống, cũng không dùng những động tác ballet hiện đại, mà làm việc trực tiếp với diễn viên để sáng tạo ra “ngôn ngữ” riêng.

Lần đầu ra mắt trong chương trình định kỳ hàng năm của HBSO dành cho các tài năng Việt nhằm phát triển nghệ thuật hàn lâm, khuyến khích nghệ sĩ sáng tạo, Vọng phu biển mang đậm dấu ấn cá nhân của hai anh em Phúc Hải – Phúc Hùng.

Năm ngoái, cũng vào ngày 9/7, vở múa “Đánh mất và tìm lại” do hai anh em biên đạo đã gây ấn tượng với giới chuyên môn và khán giả. Cả hai từng ghi dấu ấn trong vai trò diễn viên, nay tiếp tục đạt thành tựu trong công việc biên đạo với các vở Chuyển, Chạm tay vào quá khứ, ZicZac, Tango, Đối thoại, Những mảnh ghép của giấc mơ

 ĐINH HÀ
( Báo Phụ Nữ)


Đăng ký: Bản tin Văn hóa Nghệ thuật
Nguồn tin

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Nhạc sĩ An Thuyên cả cuộc đời cống hiến trọn vẹn cho nền âm nhạc nghệ thuật Việt Nam

hanhfm @ nguontinviet.com

Nhạc sĩ An Thuyên đã có cả cuộc đời cống hiến trọn vẹn cho nền âm nhạc nghệ thuật Việt Nam.

Khoảng 16h20 chiều 3/7, nhạc sĩ An Thuyên đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện 108 Hà Nội do một cơn nhồi máu cơ tim cấp. Theo chia sẻ của bệnh viện Quân y 108, ngay khi được đưa vào cấp cứu lúc 16h20 phút, nhạc sĩ An Thuyên đã rơi vào tình trạng ngưng tim. Sau hơn một tiếng nỗ lực cứu chữa không thành công, các bác sĩ đã ngưng cấp cứu lúc 17h45 phút để lại tiếc thương cho gia đình và những người mến mộ.

Sinh ra ở miền quê nghèo hiếu học

Nhạc sĩ An Thuyên sinh năm 1949 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông công tác ở Ty Văn hoá Nghệ An từ năm 1967 và đã được trực tiếp tham gia công tác sưu tầm nghiên cứu dân ca dưới sự chỉ đạo của các lãnh đạo ngành.

Nhạc sĩ An Thuyên đã có cả cuộc đời cống hiến trọn vẹn cho âm nhạc nghệ thuật Việt Nam.

Nhạc sĩ An Thuyên đã có cả cuộc đời cống hiến trọn vẹn cho nền âm nhạc nghệ thuật Việt Nam.

Năm 1975, ông vào bộ đội. Năm 1977, công tác ở Đoàn Văn công Quân khu IV. Từ năm 1981 đến năm 1988, ông được cử đi học ở Nhạc Viện Hà Nội, môn Sáng tác âm nhạc bậc đại học. Sau khi tốt nghiệp, năm 1988 ông về Phòng Văn nghệ Quân đội và đến tháng 8 năm 1992, ông về công tác ở Trường Nghệ thuật Quân đội. Ông là hiệu trưởng trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Quân đội (chuyển lên đại học năm 2006) từ 1993 – 2009.

Gần đây, ông dành nhiều tâm huyết với Hiệp hội Văn hóa Doanh nhân vừa mới được thành lập.

Những ca khúc gắn liền với tên tuổi

Nhạc sĩ An Thuyên nổi tiếng với những ca khúc: Ca dao em và tôi, Em chọn lối này, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Hành quân lên Tây Bắc, Khi xe tăng qua miền quan họ, Thơ tình của núi, Chín bậc tình yêu, Huế thương, Neo đậu bến quê, Mẹ Việt Nam anh hùng…

Tuy nhiên, An Thuyên chiếm trọn được trái tim của mọi người yêu nhạc Việt Nam là nhờ vào những bài viết nặng lòng với quê hương như: Neo đậu bến quê, Ca dao em và tôi. Tình yêu quê hương đập rộn ràng trong các ca khúc của ông, và dường như nó cũng hóa thân vào những xúc cảm thẩm mỹ khi ông viết về những vùng quê khác, những đề tài khác.

Nhạc sĩ An Thuyên cống hiến cả cuộc đời cho âm nhạc

Nhạc sĩ An Thuyên cống hiến cả cuộc đời cho âm nhạc

Ngoài sáng tác ca khúc, nhạc sĩ An Thuyên còn viết một số kịch hát đã được dàn dựng ở nhiều đoàn văn công như Trương Chi, Đôi đũa kim giao, Biển tình cay đắng, sáng tác cho khí nhạc như Concerto cho flute và dàn nhạc giao hưởng. Ông còn viết nhạc cho phim, nhạc cho múa và viết phần âm nhạc cho khoảng 60 vở kịch nói, tuồng, chèo…

Nhiều giải thưởng danh giá

Với những sáng tác đi vào lòng người, nhạc sĩ An Thuyên vinh dự nhận được nhiều giải thưởng: Giải Nhất cuộc thi ca khúc toàn quốc năm 1985: với Tiếng đàn balalaica trên sông Đà (phỏng thơ Quang Huy); Giải thưởng chính thức của Bộ Quốc phòng với ca khúc Hành quân lên Tây Bắc (1984), Thơ tình của núi (1994…

Ông cũng đã đoạt nhiều giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam như Giải Nhì với bài Chín bậc tình yêu (1992), giải Nhất với bài Bài ca người tình báo (2000), Giải Nhất với bài Đi tìm bóng núi (2004), giải Nhì hợp xướng Chào Việt Nam thênh thang mùa xuân (2004).

Nhạc sĩ An Thuyên ra đi, hưởng thọ 65 tuổi

Nhạc sĩ An Thuyên ra đi, hưởng thọ 65 tuổi

Đặc biệt, năm 2007 ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với chùm tác phẩm: Em chọn lối này, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Hành quân lên Tây Bắc.

Cuộc sống riêng

Về đời riêng, nhạc sĩ An Thuyên là ông bố hạnh phúc của hai người con cũng khá nổi tiếng là nhạc sĩ An Hiếu (hiện đang công tác tại ĐH Nghệ thuật quân đội) và ca sĩ, BTV Bông Mai (hiện đang làm việc tại Đài THVN) cùng người vợ tuyệt vời – đạo diễn, nghệ sĩ Ngô Huyền Lâm. Chính từ người vợ này mà người nhạc sĩ tài hoa đầy lãng mạn dám dũng cảm nói trước công chúng: “Cả đời tôi mê đắm phụ nữ, vì không yêu, không bay bổng sao viết hay được?”.

An Nguyên
(Báo Giadinhvn.vn)


Đăng ký: Bản tin Văn hóa Nghệ thuật
Nguồn tin

Bạn Nên Xem:

Bài Viết Liên Kết

Organic Groups

 
Thực Phẩm Hữu Cơ
Public group · 4,750 members
Join Group
Chợ Thực Phẩm Sạch
 

Tìm kiếm...

Translate

Danh Mục